Thứ năm, 31 Tháng 3 2016 22:44

Ứng dụng của C-Reactive Protein (CRP) trong chẩn đoán lâm sàng

     C-reactive protein là một protein gồm có 5 chuỗi polypeptid giống hệt nhau, không bị glycosyl hóa và liên kết với nhau bằng liên kết không cộng hóa trị. CRP không chỉ gắn với polysaccharid của vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng mà còn cả với phosphorycholin, phosphatidylcholin, các anion trong điều kiên không có Ca++, khi có mặt của Ca++, CRP có khả năng gắn với polycation như histonC-reactive protein (CRP) là một chất phản ứng giai đoạn cấp tính, một loại protein được  gan sản xuất ra và được phóng thích vào máu trong vòng một vài giờ sau khi mô bị tổn thươngdobị nhiễm trùng, hoặc nguyên nhân khác gây ra viêm. Mức độ CRP tăng đáng kể, khi có chấn thương, cơn đau tim, các rối loạn tự miễn dịch, và  các nhiễm trùng nặng do vi khuẩn như nhiễm trùng huyết. Mức độ CRP có thể tăng cao vọt một ngàn lần để đáp ứng với một tình trạng viêm, và sự gia tăng của CRP trong máu có thể có trước cơn đau, sốt, hoặc chỉ số lâm sàng khác. Thử nghiệm  đo lượng CRP trong máu có giá trị trong việc phát hiện viêm nhiễm cấp tính hoặc theo dõi cơn bùng phát của  các bệnh mãn tính.

 

     Xét nghiệm CRP không dùng để chẩn đoán, nhưng nó cung cấp thông tin để bác sĩ biết có sự hiện diện của viêm nhiễm. Các bác sĩ sử dụng thông tin này kết hợp  với các yếu tố khác, chẳng hạn như các dấu hiệu, triệu chứng khám lâm sàng và các xét nghiệm khác để xác định bệnh nhân có một tình trạng viêm cấp tính hoặc  đang trải qua một đợt bùng phát của một bệnh viêm mãn tính. Sau đó các bác sĩ  có thể thực hiện thêm các thử nghiệm khácđể chẩn đoán và theo dõi điều trị.

     Có 2 loại Protein phản ứng C có thể định lượng trong máu:

1. Protein phản ứng C chuẩn ( Standard CRP): Được sử dụng để đánh giá tình trạng viêm tiến triển

Hiện nay giá trị bình thường của CRP  trong máu có nhiều giá trị khác nhau giữa các tài liệu( <5 or <10 mg/l ) nhưng giá trị được sử dụng rộng rãi nhất là mức

CRP < 6mg/l. CRP tăng nhẹ theo tuổi, mức độ tăng tỷ lệ thuận với mức độ tổn thương của mô. Khi nhiễm khuẩn CRP tăng cao hơn so với nhiễm virut . CRP 6-40mg/L gặp ở phụ nữ mang thai, viêm nhẹ, nhiễm siêu vi. CRP mức cao hơn 40-200mg/L gặp ở bệnh nhân có viêm, nhiễm trùng đang hoạt động, và tăng >200mg/L trong nhiễm trùng và bỏng nặng. 

CRP bắt đầu tăng từ sau 6-12h và tối đa khoảng  48h. Thời gian bán thải của CRP  là 19 giờ, giảm 50% nồng độ mỗi ngày sau khi kích thích viêm cấp tính đã được giải quyết, trở về bình thường vào ngày thứ 5-7 sau đợt viêm, dù quá trình viêm đó vẫn đang tiếp diễn, trừ  khi có một đợt viêm mới.

Xét nghiệm CRP cho phép xác định tình trạng viêm sớm hơn nhiều so với khi sử dụng tốc độ lắng hồng cầu ( thường tăng lên sau khi tình trạng viêm xảy ra khoảng 1 tuần). Thêm vào đó nồng độ CRP không bị thay đổi khi có biến đổi về nồng độ glubolin máu và hematocrit, điều này khiến xét nghiệm định lượng CRP rất có giá trị khi bệnh nhân có bất thường protein máu hay có bất thường của hồng cầu.

Các nguyên nhân chính thường gặp: Viêm tụy cấp, viêm ruột thừa, nhiễm trùng do vi khuẩn, bỏng, tăng nguy cơ bị ung thư đại trạng, bệnh lý ruột do viêm, bệnh do lupus ban đỏ hệ thống, u lympho, nhồi máu cơ tim , bệnh lý viêm của tiểu khung, viêm động mạch tế bào khổng lồ, viêm khớp dạng thấp, tình trạng nhiễm trùng nặng, phẫu thuật, lao tiến triển.

Protein phản ứng C chuẩn được sử dụng để:

Đánh giá mức độ tiến triển của phản ứng viêm nhất là đối với bệnh lý mãn tính như bệnh lý ruột do viêm, viêm khớp và các bệnh tự miễn.

Theo dõi đáp ứng với điều trị các tình trạng bệnh lý nhiễm trùng nhất là nhiễm trùng do vi khuẩn và viêm.

2. Protein phản ứng C siêu nhạy (high-sensitivity CRP (hs-CRP):Để đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim mạch

< 1 mg/L :Nguy cơ thấp nhất

1-3 mg/L: Nguy cơ trung bình

> 3 mg/L : Nguy cơ cao nhất

Vai trò của CRP trong bệnh mạch vành vô cùng quan trọng. CRP tăng là yếu tố tiên đoán cho nhồi máu cơ tim, đột quỵ, bệnh động mạch ngoại biên và đột tử. CRP là yếu tố dự báo nguy cơ về sau ở những bệnh nhân  NMCT, những bệnh nhân trải qua các thủ thuật tái tưới máu như cầu nối, nong mạch vành, đặt stent. CRP tăng còn dự báo gia tăng các biến cố mạch vành trong tương lai ở người không hề có bệnh mạch vành.  

Các nghiên cứu về viêm, chủ yếu là CRP, đều cho thấy gia tăng nồng đô CRP có liên quan đến sự xuất hiện, tiến triển cũng như biến chứng của đái tháo đường (Koenig 1999, Ford 1999, Pradhan 2001).

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm

Kết quả âm tính giả: Dùng các thuốc chống viêm không phải steroid, aspirin, corticosteroid, statin, thuốc chẹn beta giao cảm.

Kết quả dương tính giả : Dùng các thuốc hormon thay thế,  thuốc ngừa thai uống.

Đặt dụng cụ ngừa thai trong buồng tử cung.

Gắng sức, thể lực quá mạnh.

Có thai.

Béo phì.

 

Khoa Xét Nghiệm - Bệnh viện Đa khoa Cẩm Phả

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỆNH VIỆN ĐA KHOA CẨM PHẢ
Giấy phép số : 07/GP-STTTT  Quảng Ninh; Cấp ngày : 12/06/2014
Chịu trách nhiệm chính: Ông Trần Ngọc Hương - Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Cẩm Phả
Địa chỉ : Số 371 Đường Trần Phú - Phường Cẩm Thành - Tp. Cẩm Phả - QN
Điện Thoại : 0333862245 - Fax : 0333862357
Email :  bvdkcampha@gmail.com

Top