Tin tức

Thứ năm, 23 Tháng 3 2017 08:23

Phòng và điều trị bệnh Lao

Written by

Bệnh lao trước đây được coi là một trong những tứ chứng nan y, nhưng vào ngày 24-3-1882 Rober Koch, bác sĩ người Đức đã tìm ra trực khuẩn gây bệnh lao cho người, mở đầu cho cuộc chiến chống lại căn bệnh đã một thời gây nên đại dịch cho nhân loại. Trải qua hơn một thế kỷ, hiện nay thế giới vẫn đang phải tiếp tục cuộc chiến chống lao đầy khó khăn.

Bệnh lao không phải là bệnh di truyền mà là bệnh lây truyền. Nguồn lây chính của bệnh là những bệnh nhân lao phổi có vi khuẩn lao trong đờm. Những người bị lao phổi ho, hắt hơi, khạc đờm vi trùng lao theo nước bọt bắn ra môi trường bên ngoài, người khác hít phải và bị nhiễm vi trùng lao, trong số người bị nhiễm vi trùng lao đó có thể mắc bệnh lao.

Biểu hiện chính là người bệnh thường ho kéo dài hơn 2 tuần (ho khan, ho có đờm, ho ra máu) là triệu chứng nghi lao quan trọng nhất; cơ thể gầy sút, kém ăn, mệt mỏi, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi “trộm” ban đêm, đau ngực, đôi khi khó thở…

Hiện nay, có 2 phương pháp phát hiện bệnh lao là phương pháp chủ động và phương pháp thụ động, được áp dụng cho cả thầy thuốc và bệnh nhân. Phương pháp chủ động là người thầy thuốc phải đưa các phương tiện như kính hiển vi, máy chụp X. quang, làm xét nghiệm đờm trực tiếp tới người dân ở tận xã, phường, thôn, xóm. Tuy nhiên, phương pháp này hiệu quả không cao do tốn kém cả về kinh phí lẫn nhân lực. Phương pháp thụ động là do người bệnh nghi ngờ bị mắc lao thì chủ động đến các cơ sở y tế để khám. Phương pháp này đạt hiệu quả rất cao, tốn ít kinh phí, ít nhân lực. Vì vậy để công tác phòng chống lao đạt hiệu quả cao, mọi người khi có các biểu hiện nghi lao cần đến ngay các tổ chống lao của các trung tâm y tế huyện, thị, thành hoặc Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh để được khám phát hiện, điều trị kịp thời.

Về điều trị bệnh: Bệnh lao có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, đúng phác đồ, đủ thời gian. Thuốc điều trị bệnh lao được cấp miễn phí. Người bệnh không được tự ý bỏ điều trị vì như vậy bệnh không khỏi mà còn sinh ra lao kháng thuốc, điều trị càng khó khăn. Trong quá trình điều trị người bệnh cần thực hiện nguyên tắc đúng - đủ - đều (đúng phác đồ; đủ thuốc, đủ thời gian; đều đặn hàng ngày).

Ảnh minh họa

Các biện pháp phòng chống: Để phòng chống bệnh lao có hiệu quả, ngay tháng đầu sau sinh, tất cả trẻ đều phải tiêm phòng vắc-xin BCG nhằm giúp ngăn ngừa các bệnh lao cấp tính. Mọi người khi ho kéo dài hơn 2 tuần cần đi khám, xét nghiệm đờm, chụp X.quang phổi để phát hiện bệnh lao. Đặc biệt khi bị bệnh lao phải điều trị càng sớm càng tốt, tránh lây lan cho những người trong gia đình và người xung quanh. Bên cạnh đó, bệnh nhân lao không được khạc nhổ bừa bãi, tốt nhất đeo khẩu trang liên tục trong 2 tháng đầu điều trị. Cần phơi chăn, chiếu, vật dụng của bệnh nhân lao ra nắng mỗi ngày. Nhà cửa cần thoáng mát, sạch sẽ. Đối với những người bị tiểu đường, suy dinh dưỡng, người có HIV... rất dễ bị bệnh lao, do đó phải thường xuyên khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện sớm bệnh lao. Đồng thời, cần có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý, thường xuyên luyện tập thể dục để tăng cường sức khỏe, phòng tránh bệnh tật. Cộng đồng cần có quan niệm đúng về bệnh lao, không nên mặc cảm hoặc kỳ thị người mắc bệnh lao để chương trình phòng chống lao ngày càng hiệu quả, tiến tới mục tiêu vì Việt Nam không còn bệnh lao vào năm 2030.

Bs Nguyễn Sơn Triều – Sưu tầm

Thứ năm, 23 Tháng 3 2017 08:13

Lịch sử bệnh Lao và ngày chống Lao thế giới

Written by

Lịch sử tìm ra vi khuẩn lao

Vào ngày Chủ nhật 24/3/1882 tại Berlin (Đức) bác sỹ Robert Koch Quốc tịch Đức đã công bố kết quả đã tìm ra vi khuẩn Lao.

Khi đó bệnh Lao đang tàn phá khắp châu Âu và Châu Mỹ với tỉ lệ cứ 7 người sống có 1 người chết vì bệnh Lao.

Năm 1891 Robert Koch tiếp tục thông báo kết quả thực nghiệm trên chuột lang, một vấn đề hết sức cơ bản trong bệnh lao - đó là "hiện tượng Koch".

Thực nghiệm của Robert Koch đã cho thấy: Chuột lang sau khi được gây nhiễm lao nếu được tiêm vi khuẩn lao chuột không bị chết vì đã có miễn dịch. Kết quả này đã gây nên một tiếng vang lớn đối với lịch sử nghiên cứu bệnh lao trên toàn thế giới.

Ảnh minh họa

Một số đặc điểm của Vi khuẩn Lao

Tên khoa học: MicobacteriumTuberculosis

Hình thể: hình que.

Đặc điểm: trong môi trường tự nhiên tồn tại 3 - 4 tháng, dưới ánh sáng mặt trời chết sau 1,5 giờ; ở nhiệt độ 420C ngừng phát triển; ở nhiệt độ 800C chết sau 10 phút; trong cồn 900C chết sau 3 phút; chiếu tia cực tím chết sau 2 - 3 phút. Trong phòng thí nghiệm có thể nuôi cấy, bảo quản Vi khuẩn Lao trong nhiều năm.

Sinh sản: là loại vi khuẩn sinh sản chậm, 20 giờ 1 lần, bằng cách phân đôi.

Nguồn thải Vi khuẩn lao: chủ yếu từ người Lao phổi.

Sự nguy hiểm của Vi khuẩn Lao:

Không có nơi nào tránh được vi khuẩn Lao; bất kỳ ai hít thở không khí cũng bị đe doạ.

Cả thế giới đang thu nhỏ lại, còn vi khuẩn Lao đang phát triển mạnh hơn.

Vi khuẩn Lao kháng đa thuốc đã lan tràn không thể đẩy lùi được.

Cả thế giới hiện như đang ngồi trên một trái bom - là chủng vi khuẩn Lao kháng đa thuốc.

Lịch sử Ngày chống Lao thế giới:

Ngày 24/3/1992: nhân kỷ niệm 100 năm ngày Robert Koch phát hiện ra Vi khuẩn Lao, Tổ chức Y tế Thế giới và Hiệp hội chống Lao Quốc tế đã tài trợ để tổ chức Ngày Thế giới phòng chống bệnh Lao.

Ngày 24/3/1998: lần đầu tiên được coi là ngày chính thức của Liên hợp quốc.

Ngày 24 tháng 3 hàng năm không phải là ngày lễ kỷ niệm mà là ngày nhắc nhở toàn nhân loại rằng: Bệnh Lao - kẻ giết người man rợ và nguy hiểm nhất đang còn tồn tại, mặc dù hiện nay chúng ta đã có thuốc men và nhiều phương tiện.

Ngày Thế giới phòng chống bệnh Lao được tổ chức thường xuyên vào ngày 24/3 hàng năm ở tất cả các Quốc gia trên toàn thế giới nhằm mục đích phổ biến rộng rãi, tăng cường kiến thức và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa đối với công tác phòng chống lao.

 

Bs Nguyễn Sơn Triều – Sưu tầm

     C-reactive protein là một protein gồm có 5 chuỗi polypeptid giống hệt nhau, không bị glycosyl hóa và liên kết với nhau bằng liên kết không cộng hóa trị. CRP không chỉ gắn với polysaccharid của vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng mà còn cả với phosphorycholin, phosphatidylcholin, các anion trong điều kiên không có Ca++, khi có mặt của Ca++, CRP có khả năng gắn với polycation như histonC-reactive protein (CRP) là một chất phản ứng giai đoạn cấp tính, một loại protein được  gan sản xuất ra và được phóng thích vào máu trong vòng một vài giờ sau khi mô bị tổn thươngdobị nhiễm trùng, hoặc nguyên nhân khác gây ra viêm. Mức độ CRP tăng đáng kể, khi có chấn thương, cơn đau tim, các rối loạn tự miễn dịch, và  các nhiễm trùng nặng do vi khuẩn như nhiễm trùng huyết. Mức độ CRP có thể tăng cao vọt một ngàn lần để đáp ứng với một tình trạng viêm, và sự gia tăng của CRP trong máu có thể có trước cơn đau, sốt, hoặc chỉ số lâm sàng khác. Thử nghiệm  đo lượng CRP trong máu có giá trị trong việc phát hiện viêm nhiễm cấp tính hoặc theo dõi cơn bùng phát của  các bệnh mãn tính.

Thứ ba, 22 Tháng 3 2016 20:52

Lịch sử bệnh Lao và ngày chống Lao thế giới

Written by

     Bệnh Lao có từ trước Công nguyên. Trước đây, do không hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh Lao, nên coi bệnh lao là bệnh di truyền. Vào ngày Chủ nhật 24/3/1882 bác sỹ người Đức tên là Robert Koch đã công bố kết quả tìm ra vi khuẩn lao. Khi đó bệnh Lao đang tàn phá khắp Châu Âu và Châu Mỹ với tỷ lệ cứ 7 người sống có 1 người chết vì bệnh Lao. Từ đó mở ra kỷ nguyên mới về sự hiểu biết bệnh Lao, những tiến bộ trong công tác phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh Lao.

Đại cương

Sốt xuất huyết là một bệnh do các virus Dengue được truyền bởi muỗi Aedes aegypti, phổ biến nhất ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Sốt Dengue (Dengue fever: DF) thể nhẹ có thể tự giới hạn và các thể nặng của nó như sốt xuất huyết Dengue (Dengue hemorrhagic fever: DHF) và hội chứng sốc Dengue (Dengue shock syndrome: DSS) có thể đe dọa tính mạng. Virus Dangue thuộc loại RNA, bộ gene có khối lượng phân tử 11 kb, gồm 3 gen cấu trúc, mã hóa cho một protein lõi (core: C), một protein màng (membrane: M), một protein vỏ (envelope: E) và 7 gene mã hóa cho các protein phi cấu trúc (nonstructural: NS), có liên quan đến các mức độ sốt Dengue.

Việc chẩn đoán nhiễm virus sốt xuất huyết thường không thể chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng bởi vì triệu chứng sốt nhiều khi không rõ ràng, khó phân biệt với sốt do các nguyên nhân khác. Do đó, việc chẩn đoán sớm sốt xuất huyết Dengue thường phải dựa vào các xét nghiệm kháng thể Dengue IgM và IgG hoặc Real-time PCR để phát hiện Dengue-RNA. Tuy nhiên, kháng thể Dengue IgM thường xuất hiện muộn vào ngày thứ 3-4 và Dengue IgG thường xuất hiện vào ngày thứ 14 sau khi nhiễm Dengue nguyên phát, nên việc chẩn đoán thường chậm; còn Real-time PCR để phát hiện Dengue RNA sớm nhưng chỉ có thể thực hiện được ở các phòng xét nghiệm hiện đại.

Gần đây, kháng nguyên Dengue NS1 (NS1 antigen) được cho là một dấu ấn sinh học mới (new biomarker) cho chẩn đoán sớm nhiễm virus Dengue [2, 4]. Kháng nguyên Dengue NS1 là một glycoprotein phi cấu trúc, được tổng hợp  ở cả ở dạng màng tế bào và dạng được bài tiết, xuất hiện trong huyết thanh bệnh nhân nhiễm virus Dengue giai đoạn sớm, có thể phát hiện trước khi hình thành các kháng thể Dengue IgM và IgG. Kháng nguyên Dengue NS1 có thể phát hiện trong máu từ ngày đầu tiên cho đến ngày thứ 9 sau khi xuất hiện sốt, ở cả bệnh nhân nhiễm Dengue thể nguyên phát hoặc thứ phát, ngay cả khi Dengue-RNA còn (-) tính và Dengue IgM còn chưa xuất hiện [2]. Xét nghiệm kháng nguyên Dengue huyết thanh có độ nhạy 92,4% và có độ đặc hiệu là 98,4%.

1. Chỉ định:

Khi  bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng nghi ngờ sốt Dengue như đau đầu, khó chịu, mệt mỏi, đau nhức cơ, nốt xuất huyết dưới da, …, để chẩn đoán một cách đầy đủ các giai đoạn của nhiễm virus sốt Dengue, xét nghiệm kháng nguyên Dengue NS1 và các kháng thể Dengue IgM và IgG cần phải được chỉ định cùng với nhau.

Để phát hiện các type huyết thanh của virus Dengue, có thể chỉ định thêm xét nghiệm Dengue-RNA từ ngày đầu tiên đến ngày thứ 5 sau khi xuất hiện sốt.

Để đánh giá nguy cơ xuất huyết và tình trạng cô đặc máu, cần chỉ định thêm xét nghiệm tổng phân tích máu, trong đó cần chú ý đến số lượng bạch cầu, tiểu cầu và hematocrit.

Để đánh giá mức độ sốt xuất huyết Dengue, cũng cần chỉ định thêm một số xét nghiệm khác như điện giải đồkhí máuchức năng đông máuenzym nguồn gốc gan hoặc X quang phổi.

2. Ý nghĩa lâm sàng:

2.1. Từ ngày 1 đến ngày 5 sau khi xuất hiện sốt:

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (-) tính và IgG (-) tính, Dengue RNA (-) tính: sốt Dengue cấp thể nguyên phát, giai đoạn rất sớm.

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (-) tính và IgG (-) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể nguyên phát.

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (+) tính và IgG (-) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể nguyên phát.

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (-) tính và IgG (+) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể thứ phát.

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (+) tính và IgG (+) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể thứ phát.

Tất cả các xét nghiệm trên có tỷ lệ phát hiện nhiễm virus Dengue cao nhất ở ngày thứ 3 và ngày thứ 4. Tỷ lệ phát hiện các kháng thể Dengue IgM và IgG cao hơn kháng nguyên Dengue NS1 và Dengue PCR vào giữa ngày thứ 5 và ngày thứ 6 kể từ khi xuất hiện sốt [2].

2.2.Từ ngày thứ 6 đến ngày thứ  9 sau khi xuất hiện sốt:

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (+) tính và IgG (-) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể nguyên phát.

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (+) tính và IgG (+) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể thứ phát.

2.3. Từ sau ngày thứ  9 sau khi xuất hiện sốt:

Giá trị chẩn đoán của cả 3 loại xét nghiệm trên đều giảm một cách có ý nghĩa, chỉ còn (+) tính khoảng 0,8-1,6%, kể từ ngày thứ 9 sau khi xuất hiện sốt [2].

Đối với xét nghiệm Tổng phân tích máu: trong sốt Dengue có thể có giảm bạchcầu, thường có giảm số lượng tiểu cầu (< 100 Giga/L), số lượng tiểu cầu giảm tỷ lệ với nguy cơ xuất huyết; sốt Dengue thường có sự cô đặc máu do thoát huyết tương, khi giá trị hematocrit tăng trên 20% so với giá trị trước đó hoặc tăng > 45% giá trị của người bình thường thì được coi là bị cô đặc máu.
                                          

                                                                      PGS-TS Nguyễn Nghiêm Luật

                                                               Bệnh viện đa khoa MEDLATEC Hà nội

Page 2 of 3

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỆNH VIỆN ĐA KHOA CẨM PHẢ
Giấy phép số : 07/GP-STTTT  Quảng Ninh; Cấp ngày : 12/06/2014
Chịu trách nhiệm chính: Ông Trần Ngọc Hương - Giám đốc Bệnh viện đa khoa Cẩm Phả
Địa chỉ : Số 371 Đường Trần Phú - Phường Cẩm Thành - Tp. Cẩm Phả - QN
Điện Thoại : 0203 3862245 - Fax : 0203 3862357
Email :  bvdkcampha@gmail.com

Top