Tin tức

Thịt lợn là món ăn rất đỗi quen thuộc với chúng ta trong bữa ăn hằng ngày. Giàu protein và chứa nhiều vitamin, các khoáng chất, thịt lợn nạc là nguồn dinh dưỡng bổ sung tuyệt vời cho sức khỏe. Ngoài thịt lợn, các bộ phận khác của lợn cũng bổ dưỡng và phòng trị nhiều bệnh. Xin giới thiệu bạn đọc tham khảo, áp dụng.

Canh thịt lợn kỷ tử đương quy đại táo: thịt lợn nạc 200g, kỷ tử 15g, đương quy 20g, đại táo 10 quả, thêm nước gia vị nấu thành canh, vớt bỏ bã đương quy. Dùng cho người đau đầu hoa mắt chóng mặt, cơ thể suy nhược, huyết hư thiếu máu, sau khi bị bệnh dài ngày, mỏi mệt gầy yếu (bổ âm, bổ huyết, bổ can thận).

cac-bo-phan-cua-lon-bo-duong-giup-phong-tri-benh-1

Canh bì lợn đại táo rất tốt cho người xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng

Nước thịt lợn hầm: thịt lợn tươi 500g thái lát to, cho nước, đun to lửa, hớt bỏ váng, gạn lấy nước, thêm muối tiêu, gia vị, để nguội uống. Dùng cho người bị nhiệt bệnh sốt cao mất nước.

Canh chân giò: móng chân giò 2 cái, mộc thông 20g. Mộc thông nấu lấy nước (bỏ bã) đem nấu với móng giò, thêm gia vị thích hợp. Dùng cho sản phụ sau đẻ bị tắc sữa, ít sữa.

Chân giò hầm lạc nhân đại táo: móng chân giò 2 cái, lạc nhân 50g, đại táo 10 quả, thêm gia vị hầm nhừ. Dùng cho người thiếu máu, giảm bạch cầu và tiểu cầu.

Cháo huyết lợn cá diếc: huyết lợn 2 bát, cá diếc 100g, gạo tẻ 100g, bột tiêu lượng thích hợp. Tất cả nấu cháo. Dùng cho người thiếu máu.

Rượu bổ huyết lợn: huyết lợn 1 bát, thêm dấm, rượu lượng thích hợp đun nóng uống. Dùng cho người rong huyết sau đẻ, rong kinh.

Cháo đậu xanh gan lợn: gan lợn 300g thái lát, đậu xanh 80g, gạo tẻ 30g nấu cháo, thêm gia vị, ăn nóng. Dùng cho người phù nề, tiểu rắt buốt, tiểu ít, suy dinh dưỡng.

Gan lợn om với nước huyền sâm: gan lợn 500g, huyền sâm 60g. Huyền sâm nấu lấy nước bỏ bã, cho gan vào, thêm muối gia vị, đun nhỏ lửa, khi gần cạn và gan chín nhừ, cho thêm dầu thực vật, đảo đều. Dùng cho người đau đầu ù tai, hoa mắt, chóng mặt đau lưng, mờ mắt, giảm thị lực, khô mắt.

Lòng lợn hầm sa nhân chỉ  xác: dạ dày lợn 1 cái, chỉ xác 12g, sa nhân 5g. Chỉ xác, sa nhân bỏ trong dạ dày lợn khâu buộc chặt lại, thêm nước, gia vị hầm nhừ; vớt bỏ bã chỉ xác, sa nhân. Dùng cho người sa dạ dày, sa tử cung, thoát vị bụng, người già yếu thoát vị cơ năng.

Lòng lợn dầm tương: dạ dày hoặc ruột lợn luộc chín, thái lát. Dùng tỏi, dấm, hạt tiêu, tương hoặc nước mắm làm nước chấm. Ăn thường ngày khi đói, ngày 1 lần, tuần 2 - 3 lần. Dùng cho người cao tuổi thiểu dưỡng, phù nề hai chân.

Cao bì lợn: bì lợn 60g, cạo sạch, hơ trên bếp than cho chín phồng, nấu thành cao lỏng, cho thêm bột gạo rang và mật vào, nấu thành cao. Ăn khi đói, mỗi lần 1 thìa, ngày 3 - 4 lần. Dùng cho người khô rát da, bong da mặt, đau sưng họng, môi khô họng khát, cảm giác nóng sốt sau bệnh viêm nhiễm dài ngày, táo bón kiết lỵ.

Canh bì lợn đại táo: bì lợn tươi 500g, đại táo 250g, đường phèn lượng thích hợp. Bì lợn làm sạch thái lát dài, thêm nước nấu dạng canh lỏng, khi bì lợn chín nhừ, cho thêm đại táo đã tách bỏ hột, nấu chín nhuyễn; cho tiếp đường phèn khuấy đều, để nguội. Chia ăn vào các bữa phụ điểm tâm thường ngày. Dùng cho người xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng

suckhoedoisong.vn

Thứ sáu, 22 Tháng 3 2019 07:19

Chung tay đẩy lùi bệnh Lao

Written by

Bệnh lao là bệnh nhiễm trùng mạn tính gây ra bởi vi khuẩn lao có tên khoa học là Mycobacterium Tuberculosis. Vi khuẩn lao chủ yếu gây bệnh ở phổi (lao phổi chiếm trên 80%) nhưng cũng có thể gây bệnh ở bất kỳ cơ quan khác trong cơ thể như màng phổi, màng não, thận-tiết niệu, xương khớp, hạch...

Người mắc bệnh lao phổi khi ho, khạc nhổ làm bắn ra những hạt nước bọt nhỏ li ti có mang theo vi khuẩn lao bay vào không khí và lưu chuyển đi khắp mọi nơi. Khi hít phải vi khuẩn lao trong không khí là bị nhiễm lao, nếu sức đề kháng của cơ thể tốt, các vi khuẩn lao bị khống chế “ở trạng thái không hoạt động” nên chúng không phát triển gây bệnh. Khi sức đề kháng của cơ bị suy giảm như do suy dinh dưỡng, nhiễm HIV, người già yếu, người mắc bệnh tiểu đường, trẻ em dưới 5 tuổi..., là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lao phát triển và gây bệnh lao.
Những dấu hiệu của bệnh lao
Ho khạc kéo dài trên 2 tuần là triệu chứng hay gặp nhất của bệnh lao phổi, ngoài ra có thể kèm theo các triệu chứng khác:
- Ho ra máu
- Sốt nhẹ kéo dài, ra mồ hôi ban đêm
- Đau tức ngực
- Gầy sút cân.
Nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào nói trên cần phải đến ngay các cơ sở y tế để khám bệnh, xét nghiệm 3 mẫu đờm tìm vi khuẩn lao. Soi đờm bằng kính hiển vi là một xét nghiệm đơn giản và chính xác để chẩn đoán bệnh lao phổi. 

Khám sàng lọc lao ở Trạm Y tế xã Tràng Lương - Đông Triều

Điều trị bệnh lao
Bệnh nhân lao phải được chẩn đoán và chỉ định điều trị bệnh tại cơ sở chuyên khoa lao, thực hiện điều trị theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc đó là phối hợp thuốc chống lao, đúng liều, đều hàng ngày và đủ thời gian. Phải xét nghiệm lại đờm 3 lần vào các thời điểm: sau tháng thứ 2 hoặc thứ 3 của giai đoạn điều trị tấn công, sau tháng thứ 5 và thứ 8 của giai đoạn điều trị duy trì.
Sau khi điều trị thuốc chống lao được vài tuần, dấu hiệu bệnh thuyên giảm, bệnh nhân thấy người khỏe hơn, ăn uống ngon miệng và có thể tăng cân, đó là biểu hiện tốt, nhưng bệnh chưa khỏi, bệnh nhân vẫn phải tiếp tục điều trị cho đủ 8 tháng. Nếu bệnh nhân bỏ dở điều trị  như ngừng dùng thuốc trước 8 tháng thì bệnh không khỏi, nhanh tái phát trở lại và đặc biệt nguy hiểm là vi khuẩn lao trở nên kháng lại các thuốc chống lao và việc điều trị về sau này gặp khó khăn hơn rất nhiều.
Thuốc chống lao có thể gặp một số tác dụng phụ như buồn nôn, chóng mặt, ngứa... Nếu cảm thấy nhìn mờ, nghe kém, đau khớp hoặc thấy vàng mắt cần phải ngừng thuốc và đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn điều trị.
Các thuốc sử dụng điều trị lao cho phụ nữ mang thai vẫn an toàn, nên phụ nữ đang mang thai có thể tiếp tục điều trị bệnh lao nhưng không nên sử dụng Streptomyxin vì có thể gây điếc cho thai nhi. Tốt nhất tránh mang thai trong khi khi đang điều trị bệnh lao nhưng không nên quá lo lắng nếu có thai. Phụ nữ mang thai chữa bệnh lao có thể vẫn tiếp tục cho con bú, nguy cơ tác động có hại của thuốc chống lao đối với trẻ em là rất hãn hữu. Tuy nhiên, nên đưa trẻ đi khám định kỳ để phát hiện kịp thời những dấu hiệu và triệu chứng ngộ độc thuốc chống lao. Nên uống thuốc sau khi cho con bú và cho trẻ bú bình vào lần bú tiếp theo sau khi uống thuốc. Không nên cho con bú nếu cả mẹ và con đều phải điều trị thuốc chống lao vì một phần thuốc chống lao qua sữa mẹ làm tăng nồng độ thuốc chống lao trong máu của đứa trẻ nên dễ có nguy cơ ngộ độc.
Những điều bệnh nhân lao cần nhớ
- Bệnh lao hoàn toàn chữa khỏi nếu bệnh nhân uống thuốc đều đặn, đúng liều và đủ thời gian 8 tháng.
- Cần đến khám lại mỗi tháng 1 lần.
- Nếu thấy xuất hiện các tác dụng phụ có hại của thuốc như: Mắt nhìn mờ, chóng mặt, nghe khó, vàng da, vàng mắt,.... cần phải ngừng thuốc và đến gặp bác sĩ ngay. 
- Không hút thuốc lá, không uống rượu. Có thể ăn, ở cùng mọi người trong gia đình nhưng phải uống thuốc đúng chỉ dẫn.
- Không cần phải ăn kiêng, ngoại trừ người bệnh lao có kèm theo đái tháo đường.Trong quá trình điều trị 8 tháng cần xét nghiệm lại đờm 3 lần để xem kết quả điều trị có tốt không và bệnh đã khỏi chưa.
 Bệnh lao và HIV/AIDS
Bình thường khi bị nhiễm lao người bệnh sẽ có nguy cơ mắc bệnh lao là 10% trong cả cuộc đời. Nếu nhiễm thêm HIV nguy cơ đó là 10% mỗi năm, bởi vì nhiễm HIV làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lao trong cơ thể sinh sôi tăng nhiều về số lượng và gây bệnh lao. Nghĩa là, ở bệnh nhân nhiễm HIV nguy cơ trong đời bị mắc bệnh lao sẽ tăng lên 30 lần. Lao và HIV/AIDS là tình trạng hai bệnh nguy hiểm; đồng thời, trên một người bệnh, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người nhiễm HIV/AIDS.

Đoàn thanh niên Bệnh viện Lao và Phổi Quảng Ninh phát tờ rơi tuyên truyền phòng chống lao cho người dân

Phòng lây nhiễm cho cộng đồng
Để phòng lây nhiễm bệnh cho cộng đồng, người mắc bệnh lao cần phải:
- Uống thuốc đều đặn theo chỉ dẫn của bác sỹ. Thường chỉ sau 2 tuần điều trị sẽ nhanh chóng làm giảm khả năng lây bệnh cho người khác.
- Che miệng và quay mặt về phía khác khi ho, hắt hơi
- Không khạc nhổ đờm bừa bãi, cần khạc đờm vào giấy rồi gói lại và đốt đi
- Nếu có điều kiện thì ngủ ở phòng riêng có thông khí tốt.
- Khuyên những người trong gia đình đi khám bệnh xem có bị lây nhiễm không
- Tiêm phòng BCG cho trẻ.

 

Nguồn : TTKS Dịch bệnh Quảng ninh

Tại Việt Nam, nhờ có vaccine và tiêm chủng, mỗi năm có hàng triệu trẻ em và phụ nữ được tạo ra miễn dịch chủ động để phòng bệnh.

 

“Việt Nam đã có tên trong bản đồ của thế giới, là một trong những quốc gia tham gia sản xuất vaccine cúm, để góp tay cùng với toàn cầu phòng chống đại dịch” - đây là nhận định của tiến sĩ Lê Văn Bé, Viện trưởng Viện Vaccine và Sinh phẩm (IVAC), thuộc Bộ Y tế, đưa ra sau khi đơn vị này công bố sản xuất được các loại vaccine cúm mùa với 3 chủng A/H1N1, A/H3N2, cúm B và vaccine cúm đại dịch A/H5N1.

 Dự kiến các vaccine này sẽ bắt đầu lưu hành từ năm 2019 với giá thành chỉ bằng 1/3 đến một nửa so với nhập khẩu.

 

v

Vaccine cúm mùa, cúm A/H5N1 do Việt Nam sản xuất. Ảnh: Thái Bình

 Sau thành công sản xuất 2,5 triệu liều vaccine sởi - rubella đầu năm 2018, Việt Nam được kỳ vọng tiếp tục có thể tự sản xuất vaccine phòng chống sốt xuất huyết. Việt Nam hiện là một trong 5 nước tham gia tiến hành nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng vaccine sốt xuất huyết. Đánh giá ban đầu của Cơ quan Quản lý thuốc, dược phẩm châu Âu cho thấy, đây là loại vaccine an toàn, giúp giảm tỷ lệ mắc sốt xuất huyết đến 60%.

 Đến tháng 9/2018, IVAC tiếp tục công bố sản xuất được vaccine cúm mùa và vaccine cúm A/H5N1 trên quy mô công nghiệp. Việc nghiên cứu, sản xuất thành công các loại vaccine cúm mùa, cúm A/H5N1 là thành tựu lớn trong việc nâng cao năng lực sản xuất vaccine, khả năng sẵn sàng ứng phó đại dịch của Việt Nam. Thành công này không chỉ mang lại lợi ích cho người dân Việt Nam mà còn góp phần tăng nguồn cung ứng vaccine cúm trong khu vực và trên thế giới.   

 Cùng với vaccine cúm mùa, ngay trong năm nay (dự kiến tháng 12/2018) hoặc đầu năm sau, Việt Nam sẽ có thêm hai loại vaccine khác là vaccine viêm não Nhật Bản tế bào và vaccine bại liệt bất hoạt. Theo Bộ Y tế, cả ba loại vaccine này đang trong giai đoạn chuẩn bị hồ sơ xin cấp phép lưu hành.

 Tại Hội thảo khoa học “Triển vọng nghiên cứu phát triển vaccine phòng bệnh cho người ở Việt Nam” diễn ra cuối tháng 8/2018, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Thanh Long, khi đó là Thứ trưởng Bộ Y tế, đã cho biết, trong 2 năm tới, Việt Nam sẽ tự sản xuất được vaccine “5 trong 1” (bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và Hib) cho trẻ em.

 Đến nay, đã có gần 30 bệnh truyền nhiễm có vaccine phòng bệnh và khoảng 190 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa vaccine vào sử dụng phổ cập cho người dân. Tại Việt Nam, nhờ có vaccine và tiêm chủng, mỗi năm có hàng triệu trẻ em và phụ nữ được tạo ra miễn dịch chủ động để phòng bệnh.

 Việt Nam là quốc gia được đánh giá là rất thành công trong việc thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng. Chương trình Tiêm chủng mở rộng của ngành y tế là một trong 8 công trình tiêu biểu được vinh danh tại chương trình “Vinh quang Việt Nam - Dấu ấn những công trình” năm 2018.

Việt Nam hiện sản xuất được 8/10 loại vaccine trong chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia. Hai loại vaccine còn lại đang phải nhập khẩu, trong đó có vaccine “5 trong 1” (bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và Hib).

 Với chứng nhận của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về hệ thống quản lý quốc gia về vaccine, Việt Nam đang từng bước khẳng định năng lực sản xuất và tiến tới xuất khẩu vaccine. Có thể tự chủ sản xuất vaccine Việt Nam sẽ kiểm soát tốt cả về chất lượng và số lượng vaccine, đáp ứng nhu cầu của người dân.

 Vaccine có vai trò đặc biệt quan trọng là tạo ra hệ miễn dịch cộng đồng. Đó là, khi có đủ số người tiêm phòng trước một loại bệnh nhất định (khoảng 83-85% cộng đồng), thì bệnh đó sẽ rất khó lây truyền và sẽ từ từ bị xóa sổ.

 Tuy nhiên, vaccine không phải là tuyệt đối. Vẫn có một số % nhỏ những người đã tiêm vaccine vẫn có thể bị mắc bệnh (từ 1-2%). Một vài trường hợp không đủ sức khỏe (như cơ thể đang mắc bệnh, sốt cao, bị dị ứng thuốc…) cũng không được tiêm vaccine. Những yếu tố này cần được đặc biệt chú ý với trẻ sơ sinh./.

 

http://www.baoquangninh.com.vn

QTV - Kháng thuốc khác sinh đang là hiểm họa nghiêm trọng đe dọa sức khỏe, tính mạng con người. Đặc biệt khi người dân tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trên thị trường không theo chỉ dẫn của bác sĩ. Ghi nhận qua một số ca bệnh kháng thuốc kháng sinh tại Bệnh viện Bãi Cháy.

 

Bệnh nhân Cao Văn Đào, 66 tuổi vào Bệnh viện Bãi Cháy từ ngày 3/11 trong tình trạng khó thở, sốt cao, ho đờm đục. Sau gần 20 ngày điều trị, bệnh nhân vẫn phải thở máy, sốt cao liên tục, thể trạng suy kiệt. Các bác sĩ Khoa Nội Hô hấp tiếp nhận điều trị và chẩn đoán bệnh nhân bị viêm phổi kháng thuốc. Kết quả nuôi cấy dịch màng phổi xét nghiệm dương tính  với siêu vi khuẩn Acinetobacter baumanii – loại vi khuẩn đa kháng, kháng tất cả các đĩa kháng sinh nuôi cấy.

 

Đánh giá về trường hợp bệnh nhân này, Bác sĩ CKI Đào Hồng Ngự cho biết “Đây là ca bệnh nguy kịch. Bệnh nhân có tiền sử bệnh tai biến mạch máu não, di chứng liệt tứ chi, thể trạng yếu,thường xuyên phải điều trị thuốc kháng sinh tại nhà. Nghiêm trọng hơn khi bệnh nhân mắc phải loại siêu vi khuẩn đa kháng thuốc Acinetobacter baumanii. Vi khuẩn này gây viêm màng não, viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm trùng vết thương, và các triệu chứng khác nhau tùy theo bệnh. Do đó, việc điều trị hết sức khó khăn do trường hợp bệnh kháng tất cả các loại kháng sinh hiện có trên thị trường.”

 

Bệnh nhân nhiễm siêu vi khuẩn đa kháng thuốc đang nằm điều trị tại Khoa Hô Hấp, Bệnh viện Bãi Cháy

Bệnh nhân nhiễm siêu vi khuẩn đa kháng thuốc đang nằm điều trị tại Khoa Hô Hấp, Bệnh viện Bãi Cháy

 

Đây chỉ là một trong nhiều trường hợp bệnh nhân mắc vi khuẩn đa kháng thuốc từng được điều trị tại Bệnh viện Bãi Cháy. Theo ước lượng thống kê, mỗi ngày Khoa hô hấp Bệnh viện Bãi Cháy tiếp nhận điều trị 10 bệnh nhân có bệnh lý về đường hô hấp như viêm phế quản, viêm phổi, hen phế quản bội nhiễm, nhiễm trùng đường hô hấp…Trong đó có khoảng 80% số bệnh nhân phải điều trị bằng thuốc kháng sinh và khoảng 50% trường hợp bệnh nhân có kháng từ ít nhất 1-2 loại kháng sinh. Nhiều trường hợp bệnh nhân đến bệnh viện điều trị trong tình trạng bệnh trở nặng sau khi đã dùng qua nhiều loại kháng sinh từ các hiệu thuốc mà không hiệu quả.

 

Như trường hợp bệnh nhân Nguyễn Thị Hoàn (Hà Khẩu, TP Hạ Long) bị ho nhiều, khó khạc đờm, sốt nhẹ, khó thở, mệt nhiều trong 1 tuần. Tuy nhiên, bà không đến bệnh viện khám mà tự mua thuốc ngoài hiệu thuốc để uống. Nhập viện trong tình trạng bệnh trở nặng, bà được các bác sĩ chẩn đoán mắc bệnh viêm phổi theo dõi đợt cấp COPD. Việc điều trị cho bà Hoàn phải dựa vào kết quả kháng sinh đồ, dùng thuốc qua đường tiêm để đạt hiệu quả tốt nhất.

 

Kháng thuốc khiến thời gian điều trị kéo dài, phát sinh thêm chi phí, nguy cơ tử vong cao

Kháng thuốc khiến thời gian điều trị kéo dài, phát sinh thêm chi phí, nguy cơ tử vong cao

 

“Bị ho nhiều, có đờm vài ngày, tôi ra hiệu thuốc và được người bán kê cho 3,4 loại thuốc trị ho, long đờm, có cả kháng sinh. Cứ nghĩ bệnh như mọi lần uống hết liều là đỡ nhưng uống vài ngày không thấy đỡ, ho nhiều thêm và sốt nhẹ. Tôi đến bệnh viện Bãi Cháy khám và quá trình tôi nhập viện điều trị bệnh viêm phổi được các bác sĩ tư vấn, chăm sóc nhiệt tình. Đến nay bệnh đã đỡ, không còn bị ho và sốt. Tôi cũng rút ra kinh nghiệm nếu sau có bệnh thì không tự ý mua thuốc uống nữa, đến bệnh viện khám cho yên tâm.” – Bà Nguyễn Thị Hoàn chia sẻ.

 

Có thể thấy, việc bệnh nhân tự ý mua, sử dụng nhiều loại thuốc kháng sinh trên thị trường, không theo chỉ định, kê đơn của bác sĩ vô cùng nguy hiểm, làm cho thời gian điều trị bệnh kéo dài, không hiệu quả. Bệnh nặng thêm dẫn đến tình trạng cơ thể kháng nhiều loại thuốc kháng sinh.

 

“Người dân chúng ta vẫn giữ thói quen có bất kỳ dấu hiệu bệnh lý nào như ho, sốt, cảm…là ra hiệu thuốc và đa số thuốc mua về đều có thuốc kháng sinh. Nhiều bệnh nhân tự ý mua thuốc kháng sinh, uống thuốc không đúng chỉ định, liều lượng, uống loại này không đỡ lại chuyển sang loại khác dẫn đến tình trạng bị kháng nhiều loại thuốc kháng sinh. Điều tồi tệ nhất là khi bệnh nhân bị vi khuẩn đa kháng thuốc xâm nhập dẫn đến việc điều trị thuốc kháng sinh không còn tác dụng. Nguy cơ tử vong cao vì suy đa tạng, suy hô hấp, nhiễm trùng huyết… Vì vậy để việc điều trị thuốc kháng sinh có hiệu quả, tất cả các bệnh lý về vi khuẩn cần phải được bác sĩ khám và kê đơn điều trị”. – Bác sĩ CK I Đào Hồng Ngự - Trưởng Khoa Hô Hấp, Bệnh viện Bãi Cháy cho biết.

 

Chia sẻ về kê đơn thuốc kháng sinh, bác sĩ Khoa hô hấp cho biết thêm: Bệnh nhân mới vào viện thăm khám, có kết luận chẩn đoán bệnh liên quan đến nhiễm khuẩn và chỉ định điều trị bằng thuốc kháng sinh. Bác sĩ sẽ kê đơn thuốc theo kháng sinh kinh nghiệm bằng cách định khu các nhiễm khuẩn do vi khuẩn để lựa chọn loại kháng sinh phổ rộng có tác dụng với loại vi khuẩn đó. Sau 3 ngày có kết quả kháng sinh đồ, các bác sĩ sẽ kê đơn thuốc điều trị theo kháng sinh đồ. Trên cơ sở đó, bác sĩ có thể chọn đúng thuốc trị đúng bệnh, hạn chế tình trạng kháng thuốc kháng sinh, giúp việc điều trị bệnh có hiệu quả và rút ngắn thời gian, chi phí điều trị bệnh cho người bệnh.

 

Như vậy, để ngăn chặn, phòng ngừa hiểm họa kháng thuốc kháng sinh thì không chỉ bác sĩ mà mỗi người bệnh cũng phải ý thức việc “Sử dụng kháng sinh có trách nhiệm”. Bệnh nhân khi cần chữa bệnh bằng thuốc kháng sinh phải được bác sĩ khám bệnh, kê đơn, không tự ý mua thuốc trên thị trường, sử dụng thuốc đúng cách thức thời gian, liều lượng kháng sinh.

 

 

Thuốc kháng sinh là những chất được chiết xuất từ vi sinh vật, nấm có khả năng tiêu diệt vi khuẩn hay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu.Tuy nhiên, thuốc kháng sinh không hoàn toàn tiêu diệt hết vi khuẩn vì những loại vi khuẩn mạnh nhất có thể phát triển và lây lan.

 

Kháng sinh có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử, thường là một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn. Vì thế kháng sinh chỉ có tác dụng với các trường hợp bệnh do vi khuẩn gây nên.

 

 Trên thực tế có tới 80% trường hợp viêm họng, ho là do vi rút, không cần dùng đến kháng sinh vì có uống cũng không mang lại hiệu quả điều trị bệnh.

 

 

 http://www.qtv.vn

Có thể nói, thị trường thực phẩm chức năng phòng và hỗ trợ điều trị đái tháo đường hiện nay đang tăng nhanh. Các sản phẩm này được quảng cáo rầm rộ trên các phương tiện thông tin đại chúng với nhiều công dụng, thậm chí là chữa khỏi bệnh tiểu đường, khiến nhiều người bệnh đã bỏ thuốc trị và chuyển hẳn sang dùng các sản phẩm này. Điều này thực sự nguy hiểm cho người bệnh.

 

khong-dung-thuc-pham-chuc-nang-thay-the-thuoc-tri-tieu-duong-1

Người bệnh tiểu đường cần đo đường huyết thường xuyên.

 

Các thực phẩm chức năng nói chung và thực phẩm chức năng cho người tiểu đường nói riêng chỉ có tác dụng hỗ trợ trong điều trị bệnh (giúp bồi bổ cơ thể, tăng cường miễn dịch, tăng sức đề kháng cho cơ thể, hỗ trợ kiểm soát đường huyết...), chứ không thể thay thế được việc dùng thuốc điều trị. Thông tin này được ghi rất rõ trong bao bì hoặc hướng dẫn sử dụng của từng loại sản phẩm chức năng.

Khi bị đái tháo đường, bạn đã đi khám và chắc chắn ngoài sự kê đơn dùng thuốc, bác sĩ sẽ có những lời khuyên, tư vấn về chế độ ăn uống, luyện tập cho phù hợp với tình trạng bệnh của mình. Đã 5 năm nay bạn uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ, đường huyết ổn định là rất tốt. Bạn cần tiếp tục tuân thủ chỉ định này và tái khám đúng hẹn để giữ đường huyết luôn ở trong giới hạn an toàn, tránh và hạn chế biến chứng do đái tháo đường  gây ra... Nếu có điều kiện muốn dùng thêm thực phẩm chức năng (vì giá thành các sản phẩm này không hề rẻ) bạn có thể tham khảo ý kiến của bác sĩ mà không nên tự ý sử dụng, và anh cần từ bỏ ngay ý định dùng thực phẩm chức năng thay thế cho thuốc trị tiểu đường đang dùng.

BS. Nguyễn Bích Ngọc - suckhoedoisong.vn

Page 1 of 3

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỆNH VIỆN ĐA KHOA CẨM PHẢ
Giấy phép số : 07/GP-STTTT  Quảng Ninh; Cấp ngày : 12/06/2014
Chịu trách nhiệm chính: Ông Trần Ngọc Hương - Giám đốc Bệnh viện đa khoa Cẩm Phả
Địa chỉ : Số 371 Đường Trần Phú - Phường Cẩm Thành - Tp. Cẩm Phả - QN
Điện Thoại : 0203 3862245 - Fax : 0203 3862357
Email :  bvdkcampha@gmail.com

Top