Admin

Admin

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

     Bệnh Lao có từ trước Công nguyên. Trước đây, do không hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh Lao, nên coi bệnh lao là bệnh di truyền. Vào ngày Chủ nhật 24/3/1882 bác sỹ người Đức tên là Robert Koch đã công bố kết quả tìm ra vi khuẩn lao. Khi đó bệnh Lao đang tàn phá khắp Châu Âu và Châu Mỹ với tỷ lệ cứ 7 người sống có 1 người chết vì bệnh Lao. Từ đó mở ra kỷ nguyên mới về sự hiểu biết bệnh Lao, những tiến bộ trong công tác phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh Lao.

     Phẫu thuật nội soi là một tiến bộ của y học, là thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại. Phẫu thuật nội soi gây tổn thương mô tối thiểu nên ít gây chảy máu, sau mổ bệnh nhân ít đau đớn hơn so với mổ mở cùng loại phẫu thuật. Đồng thời giúp bệnh nhân hồi phục nhanh sau mổ, sớm trở lại với hoạt động bình thường, điều này ngoài ý nghĩa về mặt sức khỏe còn có ý nghĩa về mặt kinh tế do bệnh nhân trở lại với công việc sớm hơn. Phẫu thuật nội soi có tính thẩm mỹ cao hơn, điều này được khảng định sau khi mổ chỉ để lại 2- 4 hoặc 5 vết sẹo nhỏ tùy thuộc vào loại phẫu thuật trên người bệnh nhân. Phẫu thuật nội soi có thể ứng dụng một cách rộng rãi: từ các phẫu thuật về tai mũi họng đến những phẫu thuật nội soi đường tiết niệu và nhiều phẫu thuật phức tạp khác, phẫu thuật nội soi cũng được áp dụng để điều trị các bệnh lý về khớp và thay thế nhiều phẫu thuật kinh điển khác.

I. XÉT NGHIỆM DENGUE

Để phục vụ chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue Khoa xét nghiệm Bệnh viên đa khoa Cẩm Phả đã sử dụng 2 loại sinh phẩm

1. Dengue Duo: Là một sinh phẩm kép hãng SD BIOLINE có khả năng phát hiện cả kháng nguyên NS1 và Kháng thể IgG/IgM. Với độ nhạy là 92.4% và độ đặc hiệu lên đến 98,4%. Cho cả 4 typ huyết thanh.

2. Dengue NS1Ag: là sinh phẩm của hãng SD BIOLINE có khả năng phát hiện kháng nguyên NS1 với độ nhạy và độ đặc hiệu như sinh phẩm dengue duo.

Bệnh phẩm để sử dụng cho xét nghiệm này có thể là máu toàn phần, huyết thanh hay huyết tương được chống đông bằng natri citrat, EDTA,heparin. Điều dưỡng lâm sàng cần lấy 2ml máu vào ống có chất chống đông hoặc không có chất chống đông.

Lưu ý: Bác sĩ lâm sàng cần chú ý đến ngày khởi sốt để có chỉ định sinh phẩm phù hợp.

II. XÉT NGHIỆM THEO DÕI ĐIỀU TRỊ

2.1. Tổng phân tích tế bào máu.

Hiện tại khoa xét nghiệm thực hiện tổng phân tích tế bào máu 16 thông số bằng máy đếm tự động  Sysmex kx21 do Nhật sản xuất và tổng phân tích tế bào máu 24 thông số bằng máy đếm Lase Pentra xl 80 do Pháp sản xuất.

Để thực hiện phân tích tế bào máu cần 1-2ml máu toàn phần được chống đông bằng EDTA.

2.2. Điện giải đồ.

Điện giải đồ 3 chỉ số Na-k-Cl được thực hiện trên máy điện giải chọn lọc ion Easylyte. Để thực hiện xét nghiệm này cần 2ml máu chống đông bằng Heparin

2.3. Xét nghiệm đông máu.

Xét nghiệm đông máu các chỉ số PT, APTT, TT, FIB được thực hiện trên máy SYSMEX CA 600 do nhật sản xuất. Để thực hiện xét nghiệm cần đúng 2ml máu được chống đông bằng natri citrate.

2.4. Xét nghiệm khí máu động mạch.

Xét nghiệm khí máu động mạch được thực hiện trên máy Gastat 1800 do Nhật sản xuất. Để thực hiện xét nghiệm này cần 0.5ml máu động mạch lấy vào bơm 1ml được tráng heparin và cần thực hiện ngay sau khi lấy máu.

Khoa xét nghiệm - Bệnh viện Đa khoa Cẩm Phả

Đại cương

Sốt xuất huyết là một bệnh do các virus Dengue được truyền bởi muỗi Aedes aegypti, phổ biến nhất ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Sốt Dengue (Dengue fever: DF) thể nhẹ có thể tự giới hạn và các thể nặng của nó như sốt xuất huyết Dengue (Dengue hemorrhagic fever: DHF) và hội chứng sốc Dengue (Dengue shock syndrome: DSS) có thể đe dọa tính mạng. Virus Dangue thuộc loại RNA, bộ gene có khối lượng phân tử 11 kb, gồm 3 gen cấu trúc, mã hóa cho một protein lõi (core: C), một protein màng (membrane: M), một protein vỏ (envelope: E) và 7 gene mã hóa cho các protein phi cấu trúc (nonstructural: NS), có liên quan đến các mức độ sốt Dengue.

Việc chẩn đoán nhiễm virus sốt xuất huyết thường không thể chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng bởi vì triệu chứng sốt nhiều khi không rõ ràng, khó phân biệt với sốt do các nguyên nhân khác. Do đó, việc chẩn đoán sớm sốt xuất huyết Dengue thường phải dựa vào các xét nghiệm kháng thể Dengue IgM và IgG hoặc Real-time PCR để phát hiện Dengue-RNA. Tuy nhiên, kháng thể Dengue IgM thường xuất hiện muộn vào ngày thứ 3-4 và Dengue IgG thường xuất hiện vào ngày thứ 14 sau khi nhiễm Dengue nguyên phát, nên việc chẩn đoán thường chậm; còn Real-time PCR để phát hiện Dengue RNA sớm nhưng chỉ có thể thực hiện được ở các phòng xét nghiệm hiện đại.

Gần đây, kháng nguyên Dengue NS1 (NS1 antigen) được cho là một dấu ấn sinh học mới (new biomarker) cho chẩn đoán sớm nhiễm virus Dengue [2, 4]. Kháng nguyên Dengue NS1 là một glycoprotein phi cấu trúc, được tổng hợp  ở cả ở dạng màng tế bào và dạng được bài tiết, xuất hiện trong huyết thanh bệnh nhân nhiễm virus Dengue giai đoạn sớm, có thể phát hiện trước khi hình thành các kháng thể Dengue IgM và IgG. Kháng nguyên Dengue NS1 có thể phát hiện trong máu từ ngày đầu tiên cho đến ngày thứ 9 sau khi xuất hiện sốt, ở cả bệnh nhân nhiễm Dengue thể nguyên phát hoặc thứ phát, ngay cả khi Dengue-RNA còn (-) tính và Dengue IgM còn chưa xuất hiện [2]. Xét nghiệm kháng nguyên Dengue huyết thanh có độ nhạy 92,4% và có độ đặc hiệu là 98,4%.

1. Chỉ định:

Khi  bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng nghi ngờ sốt Dengue như đau đầu, khó chịu, mệt mỏi, đau nhức cơ, nốt xuất huyết dưới da, …, để chẩn đoán một cách đầy đủ các giai đoạn của nhiễm virus sốt Dengue, xét nghiệm kháng nguyên Dengue NS1 và các kháng thể Dengue IgM và IgG cần phải được chỉ định cùng với nhau.

Để phát hiện các type huyết thanh của virus Dengue, có thể chỉ định thêm xét nghiệm Dengue-RNA từ ngày đầu tiên đến ngày thứ 5 sau khi xuất hiện sốt.

Để đánh giá nguy cơ xuất huyết và tình trạng cô đặc máu, cần chỉ định thêm xét nghiệm tổng phân tích máu, trong đó cần chú ý đến số lượng bạch cầu, tiểu cầu và hematocrit.

Để đánh giá mức độ sốt xuất huyết Dengue, cũng cần chỉ định thêm một số xét nghiệm khác như điện giải đồkhí máuchức năng đông máuenzym nguồn gốc gan hoặc X quang phổi.

2. Ý nghĩa lâm sàng:

2.1. Từ ngày 1 đến ngày 5 sau khi xuất hiện sốt:

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (-) tính và IgG (-) tính, Dengue RNA (-) tính: sốt Dengue cấp thể nguyên phát, giai đoạn rất sớm.

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (-) tính và IgG (-) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể nguyên phát.

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (+) tính và IgG (-) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể nguyên phát.

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (-) tính và IgG (+) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể thứ phát.

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (+) tính và IgG (+) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể thứ phát.

Tất cả các xét nghiệm trên có tỷ lệ phát hiện nhiễm virus Dengue cao nhất ở ngày thứ 3 và ngày thứ 4. Tỷ lệ phát hiện các kháng thể Dengue IgM và IgG cao hơn kháng nguyên Dengue NS1 và Dengue PCR vào giữa ngày thứ 5 và ngày thứ 6 kể từ khi xuất hiện sốt [2].

2.2.Từ ngày thứ 6 đến ngày thứ  9 sau khi xuất hiện sốt:

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (+) tính và IgG (-) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể nguyên phát.

- Nếu kháng nguyên Dengue (+) tính, kháng thể Dengue IgM (+) tính và IgG (+) tính, Dengue RNA (+) tính: sốt Dengue cấp thể thứ phát.

2.3. Từ sau ngày thứ  9 sau khi xuất hiện sốt:

Giá trị chẩn đoán của cả 3 loại xét nghiệm trên đều giảm một cách có ý nghĩa, chỉ còn (+) tính khoảng 0,8-1,6%, kể từ ngày thứ 9 sau khi xuất hiện sốt [2].

Đối với xét nghiệm Tổng phân tích máu: trong sốt Dengue có thể có giảm bạchcầu, thường có giảm số lượng tiểu cầu (< 100 Giga/L), số lượng tiểu cầu giảm tỷ lệ với nguy cơ xuất huyết; sốt Dengue thường có sự cô đặc máu do thoát huyết tương, khi giá trị hematocrit tăng trên 20% so với giá trị trước đó hoặc tăng > 45% giá trị của người bình thường thì được coi là bị cô đặc máu.
                                          

                                                                      PGS-TS Nguyễn Nghiêm Luật

                                                               Bệnh viện đa khoa MEDLATEC Hà nội

Nội dung thông tư (pdf)        Link tải file đi kèm thông tư (excel)

BỘ Y TẾ - BỘ TÀI CHÍNH
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 37/2015/TTLT-BYT-BTC

Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2015

 

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

QUY ĐỊNH THỐNG NHẤT GIÁ DỊCH VỤ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH BẢO HIỂM Y TẾ GIỮA CÁC BỆNH VIỆN CÙNG HẠNG TRÊN TOÀN QUỐC

Page 6 of 16

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỆNH VIỆN ĐA KHOA CẨM PHẢ
Giấy phép số : 07/GP-STTTT  Quảng Ninh; Cấp ngày : 12/06/2014
Chịu trách nhiệm chính: Ông Trần Ngọc Hương - Giám đốc Bệnh viện đa khoa Cẩm Phả
Địa chỉ : Số 371 Đường Trần Phú - Phường Cẩm Thành - Tp. Cẩm Phả - QN
Điện Thoại : 0203 3862245 - Fax : 0203 3862357
Email :  bvdkcampha@gmail.com

Top